Đa lợi ích chế phẩm vi sinh cho nuôi tôm

Nếu không dùng chế phẩm vi sinh, người nuôi thường mất 1,2 đến 1,3kg thức ăn/1kg tôm thương phẩm. Khi dùng chế phẩm vi sinh, lượng thức ăn giảm xuống chỉ còn 1,1 kg/1kg tôm.

Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2020, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do dịch bệnh của cả nước trên 46.000 ha (tăng 1,9 lần so với năm 2019). Khoảng trên 10.000 lồng bè, bể nuôi thủy sản bị thiệt hại.

Cụ thể, thiệt hại trên tôm nuôi nước lợ hơn 43.300 ha (chiếm 94% tổng diện tích thủy sản nuôi bị thiệt hại), cao gấp 2 lần so với năm 2019, chiếm gần 6% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước. Mặc dù diện tích bị thiệt hại nuôi tôm không lớn, nhưng trên tổng diện tích nuôi tôm, không ít diện tích bị dịch bệnh, đã gây ra thiệt hại cho người nuôi.

phat-trien-nghe-nuoi-tom-1-1342_20211215_489-015542.jpeg

Ở ĐBSCL, hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng gây ra rất nhiều khó khăn cho nuôi trồng thủy sản. Ảnh: TL.

Do đó, việc tăng cường các giải pháp quản lý, cũng như ứng dụng những quy trình, tiến bộ kỹ thuật mới trong nuôi tôm để giảm thiểu những nguy cơ, rủi ro do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, hạn chế thiệt hại gây ra trong nuôi tôm theo hướng an toàn dịch bệnh, chất lượng và hài hòa với môi trường sinh thái trên cả nước nói chung, ĐBSCL nói riêng là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.

Ông Kim Văn Tiêu, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (KNQG) chia sẻ: Khí hậu thất thường, thì việc nuôi tôm cá rất khó lường, do tôm cá là động vật nhóm máu lạnh nên rất mẫn cảm với nhiệt độ và môi trường. Sự thay đổi đột ngột các yếu tố thời tiết, nhiệt độ… khiến tôm cá có thể chết ngay hoặc làm giảm sức đề kháng, tạo cơ hội cho virus, vi khuẩn tấn công, dẫn tới phát sinh dịch bệnh. Trong khi đó, những bệnh do virus gây ra tỷ lệ chết lên đến 100%.

Đối với các tỉnh ĐBSCL, hạn hán, xâm nhập mặn gây ra rất nhiều khó khăn cho nuôi trồng thủy sản. Khi xâm nhập mặn, không chỉ cuộc sống của con người bị đảo lộn mà các lồng cá rất dễ bị sốc mặn, chết. Với nuôi tôm, độ mặn tăng cao sẽ khiến tôm chậm lớn, dễ phát sinh dịch bệnh tấn công, gây ra thiệt hại rất lớn.

Theo ông Kim Văn Tiêu, những năm qua, công tác nuôi trồng thủy sản đã có rất nhiều tiến bộ, trong đó bước ngoặt chính là ứng dụng công nghệ vi sinh. Khi người nuôi muốn có năng suất cao, chất lượng tốt, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm, gắn với bảo vệ môi trường thì không có con đường nào khác ngoài việc sử dụng chế phẩm vi sinh.

nuoitomcongnghecao-1343_20211215_757-015543.jpeg

Người nuôi tôm muốn có năng suất cao, chất lượng tốt, hạ giá thành sản phẩm, gắn với bảo vệ môi trường thì không có con đường nào khác ngoài việc sử dụng chế phẩm vi sinh. Ảnh: TL.

Trên cơ sở đó, Trung tâm KNQG đã phối hợp với nhiều công ty, trong đó có Công ty Cổ phần Tập đoàn thủy sản Bồ Đề (Công ty Bồ Đề) để chuyển giao nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KH-KT) đến người dân.

Hiện nay, chế phẩm vi sinh gồm 2 dạng, đưa vào môi trường và trộn vào thức ăn. Theo thống kê, những mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh, tỷ lệ sống của tôm rất cao, tôm nhanh lớn, rút ngắn được thời gian nuôi, khả năng hấp thụ thức ăn tốt hơn nên giúp hệ số thức ăn giảm xuống…

“Nếu không dùng chế phẩm vi sinh, thông thường người nuôi mất khoảng 1,2 - 1,3 kg thức ăn mới sản xuất ra 1 kg tôm thương phẩm. Khi dùng chế phẩm vi sinh, lượng thức ăn giảm xuống chỉ còn 1,1 kg”, ông Kim Văn Tiêu cho biết.

Cũng theo ông Tiêu, về công tác xây dựng mô hình, Trung tâm KNQG đang thực hiện theo tinh thần "5 thật": Nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật, người nông dân được hưởng thụ thật. Trung tâm đã chọn điểm, chọn người với phương châm “nông dân nói cho nông dân nghe; một người làm một ngàn người biết, 100 hộ học tập làm theo”…, kết hợp với việc thông tin đại chúng để nhân rộng những mô hình đó.

Về cơ chế chính sách, ông Tiêu bày tỏ mong muốn, cần đầu tư thêm kinh phí hỗ trợ công tác giáo dục, học tập theo tinh thần “thắp sáng hơn đổ đầy”. Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để doanh nghiệp đồng hành cùng nông dân, do doanh nghiệp nắm được bắt được thị trường, dẫn dắt sản xuất bền vững.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy hoạch theo vùng, nhà nước hỗ trợ đường giao thông, điện, mương cấp thoát nước, hồ chứa (cả mặn và nước ngọt)… Các cơ quan chuyên môn cần tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa, đảm bảo con giống và các chế phẩm xử lý môi trường đến tay người nông dân phải đảm bảo chất lượng. 

Chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng khi nuôi tôm nghịch vụ

Về vấn đề nuôi tôm nghịch vụ, ông Kim Văn Tiêu cho hay: Khi nuôi vụ đông ở miền Bắc, người nuôi bắt buộc phải có nhà bạt để giữ cân bằng nhiệt độ ao nuôi với thời tiết bên ngoài. Về tiềm năng, nuôi tôm nghịch vụ vào vụ đông nên số lượng người nuôi ít, nhờ đó giá bán tôm thường cao gấp 1,5 - 2 lần so với chính vụ. Điều quan trọng nhất của nuôi tôm nghịch vụ là tôm phải ít bệnh, dễ tiêu thụ..

Cũng theo ông Tiêu, khó khăn của nuôi tôm nghịch vụ là phải lót bạt, làm mái che, đủ sục khí… nên chi phí đầu tư ban đầu lớn. Khi nuôi tôm nghịch vụ, người nuôi cần lưu ý chuẩn bị ao nuôi thật kỹ lưỡng, đồng bộ, nếu không dùng chế phẩm sinh học thì phải làm nhà bạt, lót bạt, sục khí, quạt nước, mương cấp thoát nước, có hồ tích trữ nước, xử lý nước xong mới đưa vào ao nuôi…

Đồng thời, cần áp dụng kỹ thuật nuôi tôm 2 giai đoạn, đầu tiên đưa tôm vào bể nuôi 25 - 30 ngày, khi tôm lớn lên, có sức đề kháng mới thả ra ao to. Bên cạnh đó, nuôi vào mùa đông thường rét, nên nếu dưới 18 độ C dừng việc cho tôm ăn, vì lượng thức ăn dư thừa khi gặp thời tiết ấm lên dễ làm nước bị thối, ô nhiễm, khiến “tôm cá không chết vì đói và chết vì thừa thức ăn”.

 

 

Bình luận

Công nghệ nuôi cá mật độ gấp 10 lần ao thường, cá săn chắc, thơm ngon

Công nghệ 'sông trong ao' cho phép nuôi cá với mật độ gấp 10 lần, sản lượng gấp 2 - 3 lần so với ao thường, cho chất lượng sản phẩm cá dai, thơm ngon...

Cẩn trọng trước vụ nuôi tôm mới

Để vụ nuôi thuận lợi, trước khi thả giống, người nuôi cần theo dõi diễn biến thời tiết, kiểm tra, xét nghiệm các bệnh nguy hiểm trên tôm để tránh thiệt hại.

Chú ý khi trồng cây hồng TL- 1

Hồng TL-1 đang được người tiêu dùng ưa chuộng. Nhưng đây là giống cây ăn quả ôn đới, chỉ những địa phương có điều kiện sinh thái tương tự như Bắc Kạn mới trồng được.

Mô hình HTX thỏ sạch khép kín từ trang trại đến bàn ăn

Nắm bắt tốt thị trường, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi đã giúp HTX thỏ sạch An Nhơn Tây gặt hái thành công cũng như chỗ đứng trên thị trường.

Trồng nấm hương hữu cơ, thắng ngay vụ đầu

Xác định trồng nấm hương 3 năm đầu cố gắng hòa vốn là may, nhưng ngay vụ đầu HTX Nông nghiệp Yên Công (TP Cao Bằng) đã có lãi khá.

Nuôi con 'ngày ngủ, đêm ăn', thân tỏa xạ hương

Thức ăn ưa thích của chồn hương là các loại hoa quả chín có vị ngọt, thơm... Thịt chồn hương là đặc sản, giá bán khoảng 1,5 – 2 triệu đồng/kg.

Giảm chi phí sản xuất giống cá biển nhờ nuôi luân trùng

Nuôi sinh khối luân trùng nước mặn trong ao lót bạt làm thức ăn sản xuất giống cá biển giúp chủ động được nguồn thức ăn thay thế hoàn toàn ấu trùng Artemia.

Lần đầu có sổ tay hướng dẫn chăn nuôi hươu an toàn dịch bệnh

Để nghề nuôi hươu sao phát triển bền vững, tỉnh Hà Tĩnh xây dựng sổ tay hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi an toàn dịch bệnh, phổ biến đến tận hộ dân.

Nuôi tôm sạch bằng thảo dược: Phát triển bền vững, gia tăng lợi nhuận

Sử dụng các sản phẩm thảo dược và chế phẩm sinh học sẽ tạo ra 'cú hích' cho ngành nuôi tôm hướng đến phát triển bền vững trong tương lai.

Tận dụng phân bón hữu cơ: Cách làm của Nam Định

Tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ làm phân bón hữu cơ đã giúp nhiều nơi ở Nam Định giải được bài toán ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất...